TanThuan.orgTân Thuận
Lịch sử và tên gọi

Tân Thuận trước khi có khu chế xuất: đất trũng, rạch nước và bến bãi ven sông

Trước năm 1991, Tân Thuận là vùng đất thấp phía bắc huyện Nhà Bè: ruộng trũng, dừa nước, rạch triều, xóm ven sông và bến bãi. Hình dung lại cảnh quan và nghề xưa.

Old-style riverside scene at low tide, small wooden boats resting on mud flats, nipa palms along a creek, simple stilt houses, a distant figure carrying baskets, pale morning light

Trước khi khu chế xuất được cấp phép năm 1991, vùng Tân Thuận là một dải đất thấp phía bắc huyện Nhà Bè, kẹp giữa sông Sài Gòn và kênh Tẻ, nhiều rạch nhỏ chịu ảnh hưởng thuỷ triều. Người dân sống thành từng xóm ven sông, ven rạch, làm ruộng, nuôi trồng, chở đò, bốc xếp và buôn bán nhỏ quanh bến bãi.

Phần lớn những gì bạn thấy ở Tân Thuận hôm nay, từ nhà xưởng, chung cư đến các con đường lớn, mới hình thành trong ba mươi năm trở lại đây. Muốn hình dung vùng đất trước đó, cần ghép lại từ địa hình, từ lời kể của người lớn tuổi và từ những dấu vết còn sót.

Bài này không kể theo năm tháng chi tiết, vì tư liệu công khai về giai đoạn này không nhiều. Thay vào đó, bài mô tả cảnh quan, nghề nghiệp, đi lại của vùng đất thời ấy, chỉ ra những dấu vết còn thấy được hôm nay và gợi cách tìm thêm tư liệu cho ai muốn đào sâu.

Địa hình: vùng đất thấp sống theo con nước

Vùng phía nam Sài Gòn nói chung là đất phù sa thấp, nhiều nơi chỉ cao hơn mặt nước triều cường không bao nhiêu. Sông Sài Gòn chảy qua phía đông, mỗi ngày nước lên xuống theo chế độ bán nhật triều không đều, đẩy nước vào các rạch nhỏ len sâu vào đất liền. Khi triều lên, nhiều khoảnh đất trũng ngập; khi triều xuống, bãi bùn lộ ra.

Trên nền đất ấy, cây dừa nước mọc dày ven rạch, ô rô, bần mọc ở mép nước. Những khoảnh cao hơn được người dân đắp bờ làm ruộng, làm vườn hoặc dựng nhà. Đường đi thường là bờ đất, cầu khỉ, cầu ván bắc qua rạch; xuồng ghe là phương tiện đi lại quen thuộc.

Kênh Tẻ ở phía bắc, theo nhiều tư liệu về Sài Gòn được khơi đào, mở rộng từ thời Pháp, vừa là đường thuỷ vừa là ranh giới tự nhiên với phía Quận 4. Bên kia kênh đã là vùng cảng sầm uất, còn bên này phần lớn vẫn mang dáng nông thôn ven đô. Sự đối lập ấy kéo dài nhiều thập kỷ, cho tới khi khu chế xuất và các con đường lớn xoá dần ranh giới đó.

Người dân sống bằng gì

Nghề sông nước. Gần sông lớn và gần cảng, nhiều gia đình sống nhờ chở đò, chở hàng bằng ghe, đánh bắt cá tôm trong rạch, làm thuê ở các bến bãi. Công việc bốc xếp ở khu cảng bên kia kênh cũng thu hút lao động từ phía Tân Thuận sang.

Làm ruộng và vườn trên đất trũng. Đất phèn, nhiễm mặn theo mùa khiến năng suất ruộng không cao. Người ta trồng những thứ chịu được nước như lúa mùa, rau muống, dừa nước, nuôi vịt, nuôi cá trong ao. Đây là sinh kế phụ nhiều hơn là chính cho những gia đình gần sông.

Buôn bán nhỏ quanh bến và chợ. Các hàng quán nhỏ phục vụ người làm bến bãi, người qua lại. Chợ xóm họp sớm, bán cá, rau, đồ khô. Nhiều gia đình kết hợp nhiều nghề cùng lúc, tuỳ mùa và tuỳ con nước.

Đi làm trong thành phố. Vì gần trung tâm, một bộ phận người dân sang Quận 4, Quận 1 làm việc, buôn bán, rồi về nhà buổi tối. Tân Thuận khi đó vừa là vùng ven, vừa là "phía sau" của các khu cảng và chợ lớn.

Đi lại: từ bờ đất, cầu ván đến những con đường đầu tiên

Thời trước, muốn từ vùng Tân Thuận lên trung tâm phải vượt kênh Tẻ. Cầu Tân Thuận là lối đường bộ chính, nhưng theo lời kể của người lớn tuổi, trong nhiều năm vẫn có những bến đò ngang chở khách qua kênh, qua sông, phục vụ người đi bộ, đi xe đạp. Trong vùng, đường chủ yếu là đường đất, mùa mưa lầy lội.

Trục đường chạy dọc phía đông vùng đất, ngày nay mang tên Huỳnh Tấn Phát, là con đường quan trọng nhất từ rất sớm, dẫn từ đầu cầu xuống phía nam vùng Nhà Bè. Hai bên đường dần hình thành các cụm dân cư, quán xá. Các xóm khác bám theo rạch, theo bờ sông, nối với đường chính bằng những lối nhỏ.

Khi khu chế xuất bắt đầu xây dựng đầu thập niên 1990, nhu cầu chở vật liệu, máy móc, hàng hoá làm cho việc mở rộng đường trở nên cấp bách. Đường được nâng, nhựa hoá, các lối nhỏ dần thành hẻm bê tông. Mỗi lần nâng đường, nhà hai bên lại thấp đi tương đối, đó là lý do nhiều nhà cũ trong vùng nay nằm thấp hơn mặt đường, dễ ngập khi mưa.

Những dấu vết còn thấy được hôm nay

Đi chậm trong phường, để ý một chút, vẫn thấy nhiều dấu hiệu của vùng đất trước khu chế xuất:

  • Nhà thấp hơn mặt đường ở các hẻm cũ: dấu vết của nhiều lần nâng đường trên nền đất trũng.
  • Hẻm uốn lượn, không thẳng ô bàn cờ: nhiều hẻm đi theo đường bờ ruộng, bờ rạch cũ, khác hẳn đường thẳng tắp ở các khu quy hoạch mới.
  • Ngập khi triều cường ở một số đoạn: nước vẫn tìm về những chỗ trũng xưa, dù rạch đã bị lấp hoặc cống hoá.
  • Đoạn rạch, mương còn sót sau các khu dân cư, đôi khi vẫn có dừa nước mọc lác đác ở mép nước.
  • Cách gọi xóm, bến của người lớn tuổi: những tên nôm như xóm này, bến kia, không có trên bản đồ hành chính nhưng vẫn sống trong lời kể.

Những dấu vết này không có biển giới thiệu, nhưng là cách thực tế nhất để hiểu vì sao vùng Tân Thuận có những khó khăn về ngập nước và đường sá mà các khu đô thị mới xây trên nền đất tôn cao ít gặp hơn.

Vì sao chính vùng đất này được chọn làm khu chế xuất

Khi tìm chỗ đặt khu chế xuất đầu tiên, những yếu tố thường được tính đến là: gần cảng để xuất nhập hàng, gần trung tâm để có lao động và dịch vụ, có quỹ đất đủ rộng và chưa bị dân cư phủ kín. Vùng Tân Thuận hội đủ những điều đó: sát sông Sài Gòn, cạnh khu cảng, cách trung tâm thành phố một con kênh, và còn nhiều đất trũng chưa xây dựng.

Cái giá của lựa chọn này là phải xử lý nền đất yếu: san lấp, nâng cốt nền, làm hệ thống thoát nước. Những công việc ấy biến một phần lớn vùng đất trũng thành mặt bằng công nghiệp chỉ trong vài năm. Các xóm, ruộng, rạch trong phạm vi khu bị giải toả, người dân di chuyển đến nơi khác hoặc chuyển sang làm nghề mới gắn với khu chế xuất.

Từ đó, vùng Tân Thuận bước sang một giai đoạn khác hẳn. Phần chi tiết về lịch sử khu chế xuất có danh mục riêng trên trang; ở đây chỉ nhấn mạnh rằng, để hiểu khu chế xuất, cần hiểu vùng đất thấp ven sông mà nó được xây lên.

Muốn tìm hiểu thêm về Tân Thuận xưa thì bắt đầu từ đâu

Tư liệu về giai đoạn trước 1990 của vùng này nằm rải rác. Nếu bạn là người viết, sinh viên, hay đơn giản là con cháu muốn ghi lại chuyện cũ của gia đình, có thể đi theo trình tự:

  1. Hỏi người lớn tuổi trong nhà và trong xóm. Ghi âm, ghi chép kèm thời điểm và tên người kể, có sự đồng ý của họ. Lời kể là tư liệu quý nhưng cần ghi rõ là lời kể.
  2. Tìm ảnh gia đình cũ. Ảnh đám cưới, ảnh chụp trước nhà thời thập niên 1980, 1990 thường cho thấy cảnh quan đường xá, nhà cửa rõ hơn mọi mô tả.
  3. Đọc địa chí và sách về Sài Gòn – Gia Định tại thư viện, đặc biệt các phần viết về huyện Nhà Bè và vùng ven sông phía nam.
  4. Tìm bản đồ cũ ở thư viện, trung tâm lưu trữ. Đối chiếu với bản đồ hiện nay để thấy rạch nào đã bị lấp, đường nào mới mở.
  5. Đối chiếu nhiều nguồn trước khi viết thành bài. Một chi tiết chỉ có từ một người kể thì nên ghi là "theo lời kể", không viết như sự thật đã xác minh.

Làm như vậy, bạn sẽ có được một bức tranh trung thực về vùng đất, vừa giữ được hơi thở đời thường vừa không truyền đi những chi tiết sai.

Lớp dân cư đầu tiên và những gia đình ở lâu năm

Người ở Tân Thuận lâu đời nhất là những gia đình gắn với đất và sông: làm ruộng, đánh bắt, chở đò, buôn bán ở bến. Nhiều nhà có mồ mả ông bà trong vườn, có nhà thờ họ nhỏ, có cây trái trồng từ đời trước. Họ biết từng con rạch, từng chỗ nước sâu, biết mùa nào nước lớn, hôm nào triều cường.

Theo thời gian, lớp dân cư này đan xen với những người đến từ nơi khác: người làm ở khu cảng bên kia kênh dọn sang ở cho gần, người buôn bán từ trong thành phố xuống, người từ các tỉnh miền Tây theo đường sông lên. Vùng ven sông phía nam vốn là nơi đón người tứ xứ, và Tân Thuận không ngoại lệ.

Khi khu chế xuất xây dựng, một số gia đình gốc phải di dời khỏi phạm vi khu, nhận đền bù và chuyển đến chỗ ở mới trong vùng hoặc nơi khác. Nhiều gia đình ở lại thì chuyển nghề: xây phòng trọ cho thuê, mở quán ăn, tiệm tạp hoá, làm dịch vụ cho người lao động. Nói vui thì người Tân Thuận gốc đã "đổi nghề theo khu chế xuất" chỉ trong một thế hệ.

Cảnh quan xưa và nay: so sánh để hình dung

Bảng dưới không phải số liệu đo đạc, mà là cách tóm tắt những thay đổi lớn mà người lớn tuổi trong vùng thường kể, đặt cạnh những gì thấy được hôm nay:

Yếu tốTrước khu chế xuất (theo lời kể, tư liệu chung)Hôm nay
Mặt đấtRuộng trũng, đầm, bãi bùn ven rạchNhà xưởng, nhà ở, đường nhựa, hẻm bê tông
NướcNhiều rạch nhỏ chằng chịt, nước lên xuống theo triềuNhiều rạch đã lấp hoặc cống hoá; còn kênh Tẻ, sông Sài Gòn
CâyDừa nước, bần, ô rô ven nước, vườn cây tráiCây đường phố, công viên nhỏ, cây trồng trước nhà
Đi lạiĐường đất, cầu ván, xuồng ghe, đò ngangXe máy, xe buýt, xe đưa rước công nhân, xe container
Công việcRuộng vườn, sông nước, bến bãi, buôn bán nhỏNhà máy, logistics, dịch vụ, buôn bán, cho thuê nhà

Nhìn bảng có thể thấy vùng đất đã thay đổi gần như hoàn toàn về bề mặt. Nhưng nước vẫn là yếu tố không đổi: thuỷ triều của sông Sài Gòn vẫn chi phối chuyện ngập, chuyện thoát nước, và nhắc người dân rằng nền móng của phường là một vùng đất thấp ven sông.

Câu hỏi thường gặp

Trước khi có khu chế xuất, Tân Thuận thuộc huyện nào?

Vùng Tân Thuận thuộc huyện Nhà Bè, TP Hồ Chí Minh, với các đơn vị như xã Tân Thuận Đông, Tân Thuận Tây. Đến năm 1997, phần phía bắc huyện Nhà Bè được tách ra thành Quận 7.

Khu chế xuất Tân Thuận được xây trên đất gì?

Phần lớn là đất thấp ven sông Sài Gòn: ruộng trũng, đầm, rạch, xen các xóm dân cư. Đất được san lấp, nâng nền và làm hệ thống thoát nước trước khi xây nhà xưởng.

Vì sao nhiều nhà trong hẻm ở Tân Thuận thấp hơn mặt đường?

Vì vùng này vốn là đất trũng, đường sá được nâng nhiều lần để chống ngập và chịu tải xe lớn. Nhà xây từ trước không nâng theo kịp nên nằm thấp hơn mặt đường, dễ ngập khi mưa lớn hoặc triều cường.

Ngày xưa người Tân Thuận đi lên trung tâm bằng cách nào?

Chủ yếu qua cầu Tân Thuận bắc qua kênh Tẻ; theo lời kể của người lớn tuổi, trong nhiều năm còn có các bến đò ngang chở khách qua kênh, qua sông. Trong vùng, người dân đi trên đường đất, bờ ruộng, cầu ván và bằng xuồng ghe.

Có ảnh cũ về Tân Thuận trước năm 1990 không?

Có nhưng rải rác: trong album gia đình, một số sách, báo và kho lưu trữ. Ảnh gia đình của các hộ ở lâu năm thường là nguồn dễ tiếp cận nhất. Khi đăng lại, nên hỏi ý chủ ảnh và ghi rõ nguồn.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.